Hôm nay


Tài nguyên dạy học

Điều tra ý kiến

Xin bạn cho biết mức độ đáp ứng yêu cầu của website đối với bạn đọc?
Tốt ( từ 80% trở lên)
Khá (từ 70% đến dưới 80%)
Trung bình ( 50% đến dưới 70%)
Yếu (dưới 50%)
Ý kiến khác

ĐIỂM BÁO

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Đặng Đăng Phước)

    Giao diện

    Sắp xếp dữ liệu

    Chức năng chính 1

    Chào mừng quý vị đến với THƯ VIỆN ÂM NHẠC của Đặng Đăng Phước .

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Kiến thức âm nhạc > Lịch sử âm nhạc >

    George Frideric Handel

    Nguồn Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

    Sinh 23 tháng 2 1685
    Halle, Brandenburg, Phổ
    Mất 14 tháng 4, 1759 (251 tuổi)
    Luân Đôn, Anh Quốc
    Công việc nhạc công, soạn nhạc hòa tấu, viết nhạc kịch
    Tín ngưỡng Kháng Cách
    Ba mẹ Georg và Dorothea Händel

    George Frideric Handel (23 tháng 2 năm 1685 - 14 tháng 4 năm 1759) là nhà soạn nhạc người Đức thuộc dòng nhạc Baroque (thể loại nhạc cổ điển rất phổ biến tại Âu châu từ năm 1600 đến 1750[1]), nổi tiếng với các tác phẩm về opera, oratorioconcerto grosso. Handel chào đời tại Halle với tên Georg Friedrich Händel (IPA: [ˈhɛndəl]). Tuy vậy, phần lớn thời thanh niên của Handel trải qua ở Anh và ông trở thành thần dân của vua Anh vào ngày 22 tháng 1 năm 1747. Nhạc phẩm nổi tiếng nhất của Handel là Messiah, gợi cảm hứng từ các ký thuật trong Kinh Thánh; Water MusicMusic for the Royal Fireworks. Về kỹ thuật, Handel chịu ảnh hưởng sâu đậm từ các nhà soạn nhạc Baroque Ý, và nhà soạn nhạc Anh Henry Purcell. Mặt khác, âm nhạc của Handel thủ giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của các nhà soạn nhạc nổi tiếng thuộc thế hệ sau như Haydn, MozartBeethoven.

    Mục lục

     Tiểu sử

    Năm 1685, Handel chào đời ở Halle thuộc lãnh địa Công tước Magdeburg (tỉnh Brandenburg- Phổ), là con của Georg và Dorothea (nhũ danh Taust) Händel, cùng năm sinh với Johann Sebastian BachDomenico Scarlatti. Từ khi còn bé, Händel đã thể hiện mình là một tài năng âm nhạc; khi lên bảy, cậu đã là một nhạc công điêu luyện với đàn harpsichordphong cầm, đến chín tuổi cậu bắt đầu soạn nhạc. Tuy nhiên, thân phụ của Handel, một công dân nổi tiếng ở Halle và là một phẫu thuật viên, phục vụ trong triều đình Saxony và Brandenburg,[2] bất đồng với ước nguyện của con trai muốn theo đuổi sự nghiệp âm nhạc, và muốn cậu theo học luật. Ngược lại, mẹ cậu, Dorothea, khuyến khích cậu nuôi dưỡng những hoài bão âm nhạc.[3]

    Nhờ đó, cậu bé Handel được phép học đàn và sáng tác với Friedrich Wilhelm Zachau, một nghệ sĩ phong cầm ở Liebfrauenkirche, Halle. Một món quà cho sinh nhật lần thứ bảy của cậu từ một người cô, Anne, là một cây đàn spinet nhỏ bé, được đặt trong căn phòng áp mái để Handel có thể sử dụng khi cậu muốn tránh mặt cha.[4] [5]

    Handel thời niên thiếu.

    Năm 1702, chiều ý cha, Handel đến học luật tại Đại học Halle, nhưng ngay trong năm sau, khi thân phụ qua đời, cậu liền bỏ ngành luật để theo học âm nhạc, và trở thành người đàn phong cầm cho Đại Giáo đường Kháng Cách ở Halle. Năm 1704, Handel đến sống tại Hamburg, nhận đàn violon và hapsichord cho dàn nhạc của nhà hát opera. Đây cũng là cơ hội để cậu gặp gỡ Johann Mattheson, Christoph Graupner và Reinhard Keiser. Hai vở opera đầu tiên của Handel, AlmiraNero, hoàn thành năm 1705; còn hai vở opera khác, DaphneFlorindo, viết xong năm 1708.

    Năm 1706, Handel đến Ý theo lời mời của Gian Gastone de’ Medici, và gặp anh của Medici là Ferdinando, cũng là một nhạc sĩ. Khi ấy do nhạc opera bị cấm đoán theo lệnh của giáo hoàng, Handel quay sang sáng tác nhạc thánh; và Dixit Dominus nổi tiếng ra đời trong thời gian này (1707). Handel cũng viết nhiều bản cantata mang âm hưởng opera cho các buổi họp mặt trong lâu đài của Hồng y Pietro Ottoboni. Handel viết hai vở opera Rodrigo năm 1707 tại Florence, và Agrippina tại Venice năm 1709. Agrippina, được trình diễn 27 lần, thể hiện sự chín muồi của tài năng âm nhạc Handel, cũng như khẳng định tên tuổi của ông trong giới soạn nhạc opera. Hai oratorio, La ResurrezioneIl Trionfo del Tempo, hoàn thành năm 1709 và năm 1710 đều tại La Mã. Năm 1710, Handel được George, Vương hầu Hanover, mời về chỉ huy dàn nhạc tại đây. Sau này George trở thành Vua George I của Anh. Năm 1710, Handel đến Luân Đôn và sống ở đó cho đến năm 1712, Nữ hoàng Anne ban cho ông khoản tiền 200 bảng Anh mỗi năm. Trong những năm ở Luân Đôn, một trong những người bảo trợ quan trọng nhất của Handel là nhà quý tộc trẻ tuổi và giàu có Richard Boyle, Bá tước Burlington, một trong những người đầu tiên yêu thích âm nhạc của Handel.[6] Ông vui hưởng những ngày hạnh phúc ở đây, và sáng tác một vài tuyệt phẩm âm nhạc cho bá tước.

    Năm 1723, Handel dời đến ngôi nhà mới xây dựng ở số 25 Đường Brook, Luân Đôn, và sống ở ngôi nhà thuê này cho đến khi từ trần năm 1759. Những sáng tác nổi tiếng của Handel - Messiah, Zadok the Priest, và Music for the Royal Fireworks – ra đời tại đây. Ngôi nhà trở thành Bảo tàng Nhà Handel, mở cửa cho công chúng vào những dịp trình diễn nhạc Baroque.

    Năm 1726, Handel cho ra mắt vở opera Scipio, năm sau ông trở thành thần dân nước Anh.

    Năm 1727, Handel được yêu cầu viết bốn bài ca cho lễ đăng quang của Vua George II. Một trong những ca khúc này là Zadok the Priest, luôn được trình diễn tại tất cả lễ đăng quang ở nước Anh từ đó. Handel nhận làm giám đốc Nhạc viện Hoàng gia từ năm 1720-1728, và là cộng sự với J.J. Heidegger trong công tác quản lý Nhà hát Nhà vua từ năm 1729-1734. Handel cũng là người cộng tác lâu dài với Nhà hát Opera Hoàng gia tọa lạc tại Covent Garden. Đây cũng là nơi ra mắt nhiều vở opera mượn bối cảnh nước Ý của Handel.

         Nhà Handel, 25 Đường Brook, London.

    Tháng 4 năm 1737, có lẽ do đột quỵ, tay phải của Handel bị liệt nên ông phải tạm dừng các cuộc trình diễn. Đồng thời, ông cũng bị suy giảm thị lực. Handel đến Aix-la-Chapelle để tắm nước nóng và trình diễn organ.

    Sau khi sức khỏe được phục hồi, Handel tập trung soạn các bản oratoria (nhạc Kinh Thánh) thay vì viết nhạc opera. Messiah ra mắt ngày 13 tháng 4 năm 1742 tại New Musick Hall trên Đường Fishamble, Thành phố Dublin. Ca đoàn toàn giọng ca nam gồm có 26 thiếu niên và năm người lớn đến từ các ca đoàn của hai đại giáo đường St Patrick và Christ Church. Năm 1749, Handel hoàn tất Music for the Royal Fireworks, có 12 000 người đến nghe. Hôm sau có ba người chết, trong đó có một nghệ sĩ kèn trumpet.

    Năm 1750, Handel tổ chức một buổi trình diễn Messiah gây quỹ cho Foundling Hospital (một cơ sở chăm sóc trẻ có hoàn cảnh khó khăn tại Luân Đôn). Sự thành công vang dội của buổi diễn mở ra những buổi trình diễn hằng năm kéo dài suốt đời ông. Sau buổi diễn gây quỹ đầu tiên, Handel trở nên người bảo trợ chính thức của Foundling Hospital.

    Tháng 8 năm 1750, trong chuyến đi trở về nước Đức, Handel bị thương nặng trong một tai nạn xe ngựa tại một địa điểm giữa The HagueHaarlemHà Lan.[7] Năm 1751, một mắt của ông bị mất thị lực. Không ai biết rõ nguyên nhân, nhưng mắt còn lại cũng bị hư. Tám năm sau, năm 1759, Handel từ trần tại Luân Đôn. Hơn ba ngàn người đến dự tang lễ của Handel được cử hành theo nghi thức quốc gia. Giai điệu của Messiah được cất lên trong tang lễ của ông. Handel được an táng trong Tu viện Westminster.

    Handel chưa bao giờ kết hôn, và luôn giữ kín các chi tiết trong cuộc sống riêng tư. Không giống các nhà soạn nhạc khác, sau khi chết ông để lại một tài sản trị giá 20 000 bảng Anh (một số tiền khổng lồ thời ấy), phần lớn được di chúc cho một cô cháu gái đang sống ở Đức, cùng các món quà cho những người thân, người giúp việc, bạn hữu và các tổ chức từ thiện.

    Tác phẩm

    Handel soạn 42 vở opera; 29 oratorio; hơn 120 cantatas, trio và duet; nhiều aria; nhạc thính phòng; một khối lượng lớn nhạc tôn giáo; ode và serenata; và 16 concerto đàn organ. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, Messiah với bài hợp xướng “Halleluja”, là một trong những bài hợp xướng được yêu thích nhất, trở thành một tuyệt tác trong các mùa Giáng sinh. Cũng được yêu thích là Opus 3 và 6 Concerti Grossi, cũng như “The Cuckoo and the Nightingale”, và 16 tổ khúc keyboard, nhất là The Harmonious Blacksmith.

    Handel đưa vào sáng tác của ông các loại nhạc cụ ít được bết đến: viola d’amore và violetta marina (Orlando), đàn lute (Ode for St. Cecilia’s Day), ba loại kèn trombone (Saul), clarinet hoặc cornet (Tamerlano), đàn dây theorbo, kèn đồng French horn (Water Music), lyrichord, double bassoon, viola da gamba, bell chimes, positive organ, và harp (Giulio Cesare, Alexander’s Feast). [8]

    Các sáng tác của Handel được phân loại theo số HWV. Lấy thí dụ, Messiah của Handel mang ký hiệu HWV 56.

    Di sản

    Haendel.jpg

    Sau khi mất, các vở opera Ý của Handel bị rơi vào quên lãng, ngoại trừ những hợp tuyển aria như Serse, “Ombra mai fu”. Danh tiếng của Handel xuyên suốt thế kỷ 19 và thượng bán thế kỷ 20, nhất là ở các quốc gia nói tiếng Anh, được vun đắp bởi các oratio tiếng Anh, thường được trình diễn trong các dịp lễ lớn bởi các ca đoàn lớn quy tụ những ca sĩ nghiệp dư. Trong số này, nổi tiếng nhất là Esther (1718); Athalia (1733); Saul (1739); Israel in Egypt (1739); Messiah (1742); Samson (1743); Judas Maccabaeus (1747); Solomon (1748); and Jephtha (1752).

    Từ thập niên 1960, khi thính giả bắt đầu quay trở lại với dòng nhạc baroque, nhạc cổ điển trình diễn theo phong cách nguyên thủy, và ưu thế vượt trội của các giọng ca nam countertenor, những vở opera Ý của Handel được hồi sinh, nhiều vở được thu âm và trình diễn trên sân khấu. Trong số 50 vở opera ông viết từ năm 1705 đến 1738, các vở Agrippina (1709), Rinaldo (1711, 1731), Orlando (1733), Alcina (1735), Ariodante (1735), and Serse (1738, also known as Xerxes) được xem là đặc biệt xuất sắc, thường được thể hiện trên sân khấu các nhà hát opera và các sảnh hòa nhạc. Tuy vậy, có thể xem hai vở Giulio Cesare (1724) and Rodelinda (1725) là xuất sắc nhất, nhờ những sáng tạo tuyệt vời của Handel cho dàn nhạc và giọng hát, đã trở nên một phần của kho tàng nhạc opera.

    Cũng được hồi sinh trong những năm gần đây là các bản cantata thế tục, và những vở oratiorio thế tục. Trong số những cantata thì Ode for St. Cecilia’s Day (1739), và Ode for the Birthday of Queen Anne (1713) là nổi bật nhất. Handel chọn các câu truyện thần thoại làm chủ đề cho các vở oratorio thế tục của mình như Acis and Galatea (1719), Hercules (1745), và Semele (1744). Với sự tái phát hiện các xuất phẩm âm nhạc trình diễn trên sâu khấu, Handel không chỉ được nhìn nhận như là một nhạc công, nhà sáng tác nhạc hòa tấu, người soạn giai điệu, mà còn được xem là một trong những nhà viết nhạc kịch vĩ đại nhất.

    Cho đến nay, Handel là một tên tuổi lớn được các nghệ sĩ sáng tác nể trọng. Bach từng thổ lộ, “[Handel] là người duy nhất tôi mong ước được gặp mặt trước khi chết, và là người duy nhất tôi muốn trở thành, nếu tôi không là Bach.” Mozart đưa ra nhận xét, “Handel thấu hiểu hiệu quả [âm nhạc] hơn bất kỳ ai trong chúng ta. Một khi đã chọn lựa, ông khiến chúng tác động mạnh mẽ như sấm rền,”[9] còn đối với Beethoven, Handel là “thầy của tất cả chúng ta… nhà sáng tác vĩ đại nhất từng sống trên đất. Tôi sẽ ngả mũ và quỳ trước phần mộ ông.
    Nhắn tin cho tác giả
    Đặng Đăng Phước @ 01:07 17/05/2011
    Số lượt xem: 2155
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar
    Mời các thầy (cô) ghé thăm http://sinhhocpt.violet.vn và dự sinh nhật MÁI NHÀ CHUNG MÀU XANH vào ngày 16/6/2011. Hân hạnh được đón tiếp!
     
    Gửi ý kiến

    Bản đồ