Hôm nay


Tài nguyên dạy học

Điều tra ý kiến

Xin bạn cho biết mức độ đáp ứng yêu cầu của website đối với bạn đọc?
Tốt ( từ 80% trở lên)
Khá (từ 70% đến dưới 80%)
Trung bình ( 50% đến dưới 70%)
Yếu (dưới 50%)
Ý kiến khác

ĐIỂM BÁO

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Đặng Đăng Phước)

    Giao diện

    Sắp xếp dữ liệu

    Chức năng chính 1

    Chào mừng quý vị đến với THƯ VIỆN ÂM NHẠC của Đặng Đăng Phước .

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Cổ học tinh hoa >

    Cổ học tinh hoa

    Tăng Sâm Giết Người 

     Cổ Học Tinh Hoa

     

    Ông Tăng Sâm ở đất Phị ở đấy có kẻ trùng danh với ông giết chết người.

    Một người hớt hãi chạy đến báo mẹ ông Tăng Sâm rằng: "Tăng Sâm giết người " .Bà mẹ nói : " Chẳng khi nào con ta lại giết người ".Rồi bà điểm nhiên ngồi dệt cửi .

    Một lúc lại có người đến bảo:"Tăng Sâm giết người".Bà mẹ không nói gì , cứ điểm nhiên dệt cửi .

    Một lúc lại có người đến bảo : Tăng Sâm giết người ".Bà mẹ sợ cuống , quăng thoi , trèo qua tường chạy trốn.

    (Quốc Sách)

    Giải Nghĩa:

    Tăng Sâm: Người thời Xuân Thu, tính chất chân thật và có hiếu, học trò đức Khổng Tử và mau truyền được đạo của ngài.

    Trùng danh: Cùng giống tên nhau

    Điềm nhiên: Biết mà cứ im lặng như không.

    Lời Bàn:

    Tăng Sâm vốn là người hiền hậu, hiếu thảo, bà mẹ vốn là người trung tín, một bụng tin con. Thốt nhiên có kẻ bảo: "Tăng Sâm giết người". Bà mẹ không tin, và người thứ hai bảo, còn chưa tin; đến người thứ ba bảo, thì cuống cuồng chạy trốn. Như thế mới hay cái dư luận của thiên hạ rất là mạnh. Một việc, dù cho sai lầm đến mười mươi, nhiều người đã có cùng một nghị luận đều như thế cả, thì cũng dễ khiến người ta nghi nghi hoặc hoặc rồi đem bụng tin mà cho là phải, nom đỉa hóa ra con rươi, trong con chó thành con cừu. Đến như giữa chợ, làm gì có cọp! Thế mà một người, hai người, đến ba người nói có cọp, thiên hạ cũng tin có cọp thật nữa là! Những bậc ra được ngoài vòng dư luận, giữ vững được bụng như cây giữa rừng, như kiềng ba chân rất là hiếm, nhưng có thế được mới caọ Một chân lý có chứng minh rõ ràng, mười phần chắc chắn, thì mới nên công nhận.


    Bán Mộc Bán Giáo 

    Có người nước Sở làm nghề bán mộc, vừa bán giáo.

    Ai hỏi mua mộc, thì anh ta khoe rằng: "Mộc nầy thật chắc, không gì đâm thủng."

    Ai hỏi mua giáo, thì anh ta khoe rằng: "Giáo nầy thật sắc, gì đâm cũng thủng."

    Có người nghe nói, hỏi rằng: "Thế bây giờ lấy giáo của bác đâm vào mộc của bác, thì thế nào?"
    Anh ta không đáp ra làm sao được.

    (Hàn Phi Tử)

    Giải Nghĩa:

    Sở: Một nước lớn thời Xuân Thu ở vào vùng Hồ Bắc, Hồ Nam bây giờ.

    Mộc: Đồ binh khí bằng gỗ, hình bầu dục để đỡ khi mũi nhọn đâm xỉa. Cái khiên thì đan bằng mây và hình tròn.

    Giáo: Đồ binh khí, đầu nhọn, cán dài, dùng để đâm.

    Lời Bàn :

    Ôi! một cái chắc, đâm không thủng, với một cái sắc, đâm gì cũng thủng, hai cái phản đối hẳn nhau thì cùng đi với nhau sao được! Thế mà người nướcSở dám khoe mộc, lại khoe giáo luôn ngay một lúc. Chẳng qua là chỉ vì mối lợi mà thành ra nối dối. Nhưng cái trò nói dối hay cùng, khi người ta hỏi đến lẽ, là không đối đáp làm sao được nữa. Có khác gì kẻ đem tượng gỗ ra chợ bán, khoe rằng: "Ai mua tượng về nhà, thì được giàu sang." Đến lúc có người bẻ: "Thế sao bác không để ở nhà cho được giàu sang, lại mang ra chợ bán làm gì?" thì tắc khẩu mà đành vác tượng về.


    Ngọc ở Trong Đá 

    Một người thợ ngọc qua hàng thợ đá, vào xem các thứ đá, thấy một tảng trong có ngọc, mua về, đẽo ra quả nhiên được ngọc. Ngọc ấy trắng nuốt và có gân đỏ, quý giá vô cùng. Người thợ ngọc nhờ đó mà giàu có. người thợ ngọc qua hàng thợ đá, vào xem các thứ đá, thấy một tảng trong có ngọc, mua về, đẽo ra quả nhiên được ngọc. Ngọc ấy trắng nuốt và có gân đỏ, quý giá vô cùng. Người thợ ngọc nhờ đó mà giàu có.

    Thợ đá thấy thế, lấy làm thích lắm, cũng muốn bắt chước. Anh ta nghĩ bụng: "Đá nào trong cũng có ngọc". Rồi ở nhà có bao nhiêu thứ đá, đem cả ra đập để tìm ngọc. Không những không thấy ngọc, mà các đá vỡ tan chẳng dùng được việc gì nữa.
    Anh ta vừa mất của, vừa lỗ vốn, cùng quẫn khổ sở, chẳng bao lâu rồi chết.

    Giải Nghĩa:

    Cùng quẫn: Túng bần quá không đủ ăn tiêu

    Lời Bàn :

    Ngọc chẳng qua là một thứ đá đẹp, đá quý lẫn với đá thường mà thôị Nhưng phải có con mắt tinh xem ngọc mới nhận ra và tìm được ngọc ở trong đá. Người thợ ngọc biết ngọc nên trông qua đủ biết đá nào có ngọc, chớ người thợ đá chỉ biết đá, lại muốn tìm ngọc, chẳng những không tìm thấy ngọc mà lại còn hại cả bao nhiêu đá của mình nữa! Ôi! thực là xôi hỏng bỏng không! tham thì thâm! Cái thói tham không phải đường nó vẫn hại con người như thế! Cho nên người trí giả phải có kiến thức rõ đích xác rồi mới chịu làm.


    Bắt Chước Nhân Mặt 

    Nước Việt có nàng Tây Thi nổi tiếng đẹp một thời. Nàng 

    có chứng đau bụng, mà khi nào đau ôm bụng nhăn mặt, thì lại càng đẹp lắm.Có người đàn bà ở cùng làng thấy mặt nhăn mà đẹp, muốn bắt chước, về nhà cũng ôm bụng mà nhăn mặt. Người làng trông thấy, tưởng là ma quỷ; nhà giàu thì đóng cửa chặt không dám ra, nhà nghèo thì bồng bế vợ con mà chạy trốn.

    (Trang Tử)

    Giải Nghĩa:

    TâyThi hoặc còn gọi là Tây Tử : 

    Người con gái nước Việt ở thôn Trữ La, làm nghề dệt vải, cha thì bán củi. Nàng nổi tiếng đẹp, sau vua nước Việt là Câu Tiễn vì thua nước Ngô đem nàng hiến cho vua Ngô là Phù Sai

    Trang Tử: Sách của Trang Chu soạn đến đời Đường gọi là Nam Hoa Chân kinh. Trang Tử, học đạo Lão tử, sau người ta vẫn xưng Lão tử với Trang tử là tổ của Đạo gia

    Lời Bàn :

    Chỉ biết nhăn mặt là đẹp. Không biết nét mặt phải thế no thì nhăn mới đẹp. Thực là đáng tiếc! Kẻ quên phận mình, chỉ muốn bắt chước người thì có khác gì người xấu muốn bắt chước nàng Tây Thi nói trong truyện này không? Ôi! bắt chước là một cái hay, nhưng nếu không chịu suy nghĩ cứ nhắm mắt bắt chước liều như con lừa thổi sáo, con nhái muốn to bằng con bò, thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ, chẳng những không được lợi gì mà lại thiệt đến bản thân.


    Cái Được Cái mắt Của Người Làm Quan

    Khổng Miệt là cháu đức KhổngTử. Bật Tử Tiện là học trò đức Khổng Tử , hai người cùng làm quan một thời.

    Đức Khổng Tử qua chơi Khổng Miệt, hỏi rằng: "Từ khi ngươi ra làm quan được những điều gì, mất những điều gì?"

    Khổng Miệt thưa: "

    Từ khi tôi ra làm quan chưa được điều gì, mà đã mất ba điều: việc quan bận, không còn thời giờ học tập, vì thế mà học vấn không tấn tới; bổng lộc ít, không đủ chu cấp cho họ hàng, vì thế mà họ hàng không thân thiết; công việc nhiều không thể đi thăm người đau, viếng người chết, vì thế mà ăn ở với bầu bạn không được trọn vẹn".
    Đức Khổng Tử nghe nói không bằng lòng.

    Sau ngài đến chơi BậtTử Tiện,lại hỏi như hỏi Khổng Miệt.

    Bật Tử Tiện thưa: "Từ khi tôi ra làm quan, chưa mất điều gì, mà đã được ba điều: Những điều trước học nay đem ra thực hành vì thế mà học càng rõ; bổng lộc dù bạc, cũng có thể chu cấp ít nhiều cho họ hàng, vì thế mà họ hàng càng gần; việc quan tuy bận, song cũng bớt được ít thời giờ đi thăm người đau, viếng người chết, vì thế mà bầu bạn càng thân".

    Đức Khổng Tử nghe nói khen rằng: "Tử Tiện thực là người quân tử".

    (Gia Ngữ)

    Giải Nghĩa :

    Chu cấp: Chu - giúp, cấp - cho, giúp đỡ cho người ta những cái mà người cần đến.

    Thân thiết: Gần gũi năng đi lại.

    Thực hành: Đem ra làm thật sự.

    Bạc: Mỏng, đổi lại với hậu, đây là ít ỏi. 

    Lời Bàn :

    Hai đoạn nầy bày ra hai cái cảnh phản đối lại hẳn với nhaụ Cũng là làm quan, mà một đàng "mất" một đàng "đuợc" khác nhau chẳng qua là chỉ do tự mình cả, chớ không phải nghề làm quan bó buộc mình phải như thế. Đức Khổng Tử khen người "được" là quân tử, thì tất bỉ người "mất" là tiểu nhân. Ôi! làm quan tuy là bận việc, tuy là ít lương, tuy là hẹp thời giờ, mà vẫn học hành cho rộng thêm trí thức mà vẫn chu cấp được cả cho bà con, mà vẫn ân cần cả với chúng bạn, thì cũng đáng phục là ông quan quân tử thật.


    Can Vua Bỏ Rượu 

    Vua Cảnh Công nước Tề hay uống rượu, có bận say luôn mấy đêm ngày, xao lãng cả việc nước, Huyền Chương can, nói: "Nhà vua uống rượu say sưa như thế, hạ thần xin can, nhà vua không nghe, hạ thần xin tự tận."

    Ngay lúc ấy án Tử vào yết kiến vuạ Vua bảo: "Huyền Chương can ta bỏ rượu, không thì y tự tận. Nếu ta mà nghe, thì ta hóa ra non, nếu ta không nghe, lỡ Huyền Chương chết thì cũng đáng tiếc."

    án Tử nói: "May lắm! may mà Huyền Chương gặp được nhà vua, chớ như vua Kiệt, vua Trụ, thì chết mất rồi, còn đâu sống được đến bây giờ nữa!"
    Cảnh Công nghe nói, tỉnh ngộ, tự hôm đó chừa rượu.

    (án Tử Xuân Thu)

    Giải Nghĩa:

    Tề: Một nước chư hầu lớn, thời Xuân thu Chiến quốc ở vào địa phận tỉnh Sơn Đông bây giờ.

    Hạ thần: Hạ: dưới, thần: bầy tôị Tiếng bầy tôi xưng với vua

    Tự tận: Tự mình làm cho mình chết.

    Yết kiến: Vào hầu.

    Kiệt, Trụ: Hai vua tàn bạo, độc ác say mê tửu sắc, bỏ cả chính sự đến nỗi mất nước.

    Tỉnh ngộ: Đang say mê việc gì mà biết hối lại.

    án Tử Xuân Thu: Bộ sách ghi chép những công việc cùng lời nói của án Tử. án Tử tức án Anh, tên tự là Bình Trọng, người nước Tề thời Xuân Thu, làm tướng ba đời vua Linh Công, Trang Công, Cảnh Công, có tính cần kiệm, một bụng trung thành nổi tiếng thời bấy giờ.

    Lời Bàn:

    án Tử Xuân Thu: Bộ sách ghi chép những công việc cùng lời nói của án Tử. án Tử tức án Anh, tên tự là Bình Trọng, người nước Tề thời Xuân Thu, làm tướng ba đời vua Linh Công, Trang Công, Cảnh Công, có tính cần kiệm, một bụng trung thành nổi tiếng thời bấy giờ.


    Khéo Can Được Vua 

    Vua Cảnh Công nước Tề có con ngựa quý, giao cho một người chăn nuôị Con ngựa tự nhiên một hôm lăn ra chết. Vua giận lắm, cho là giết ngựa, sai ngay quân cầm dao để phanh thây người nuôi ngựa. án Tử đang ngồi chầu, thấy thế, ngăn lại, hỏi vua rằng: "Vua Nghiêu vua Thuấn xưa phanh người thì bắt đầu từ đâu trước?"

    Cảnh Công ngơ ngác nhìn nói: "Thôi hãy buông ra, đem giam xuống ngục để rồi trị tội."

    án Tử nói: "Tên phạm này chưa biết rõ tội gì mà phải chịu chết, thì vẫn tưởng là oan. Tôi xin vì vua kể rõ tội nó, rồi hãy hạ ngục."

    Vua nói: "Phải".

    án Tử bèn kể tội rằng: "Nhà ngươi có ba tội đáng chết. Vua sai nuôi ngựa mà để ngựa chết, là một tội đáng chết. Lại để chết con ngựa rất quý của vua, là hai tội đáng chết. Để vua mang tiếng, vì một con ngựa mà giết một mạng người, làm cho trăm họ nghe thấy ai cũng oán vua, các nước nghe thấy ai cũng khinh vua, ngươi làm chết một con ngựa mà để đến nỗi dân gian đem lòng oán giận, nước ngoài có bụng dòm dỏ, là ba tội đáng chết, ngươi đã biết chưả Bây giờ hãy tạm giam ngươi vào ngục...

    Cảnh Công nghe nói ngậm ngùi than rằng: "Thôi, tha cho nó! Thôi, tha cho nó! kẻo để ta mang tiếng bất nhân."

    (án Tử Xuân Thu)

    Giải Nghĩa:

    Tề: Một nước chư hầu lớn, thời Xuân thu Chiến quốc ở vào địa phận tỉnh Sơn Đông bây giờ.

    Phanh thây: Mổ người, róc xương, lấy thịt.

    Vua Nghiêu vua Thuấn xưa ...: Câu nầy hỏi thế là có ý làm cho Cảnh Công không có lối mà trả lời. Đời Nghiêu, Thuấn chưa có tội phanh thâỵ

    Thôi hãy buông ra: Cứ theo như sách án Tử Xuân thu thì là "Tòng quả nhân thủy" (khởi tự ta ra) theo Hàn Thi Ngoại chuyện thì lại là Túng chi (buông ra). Đây dịch là buông ra để ăn nghĩa với câu trên.

    Hạ ngục: Đời xưa bao nhiêu đã hạ ngục tối là phải xử tử cả.

    Trăm họ: Chỉ nhân dân trong nước.

    Dòm dỏ: Ngấpnghé xem người ta hở cơ thì làm hại.

    án Tử Xuân Thu: Bộ sách ghi chép những công việc cùng lời nói của án Tử. án Tử tức án Anh, tên tự là Bình Trọng, người nước Tề thời Xuân Thu, làm tướng ba đời vua Linh Công, Trang Công, Cảnh Công, có tính cần kiệm, một bụng trung thành nổi tiếng thời bấy giờ.

    Lời Bàn:

    Vua Cản Công thấy con ngựa yêu của mình chết, mà bắt phanh thây kẻ nuôi ngựa là đang cơn tức giận, không còn biết nghĩa lý, pháp luật là gì nữa. Thế mà án Tử can ngăn được là vì tuy gọi chiều lòng, kể tội người nuôi ngựa, mà kỳ thực lại gợi đến cái lòng nhân ái của Cảnh Công làm cho Cảnh Công phải tỉnh ngộ và biết hối. Giỏi thay! Mấy lời nói dịu dàng, thảnh thơi mà cảm hóa được quân vương.


    Chết Mà Còn Rân Được Vua 

    Cừ Bá Ngọc là người hiền mà vua Linh Công nước Vệ không dùng. Di Tử Hà là người dở mà vua lại dùng.

    Sử Ngư thấy thế, đã răn nhiều lần, mà vua không nghẹ Lúc ông có bệnh ,sắp mất, dặn con rằng: "Ta làm quan tại triều nước Vệ, không hay tiến được Cừ Bá Ngọc, thoái được Di Tử Hà thế là bầy tôi không khuyên răn nổi vua, thì khi ta nhắm mắt, không được làm đủ lễ. Cứ để thây ta dưới cửa sổ, thế là xong việc cho tạ"

    Lúc ông mất, người con cứ làm theo lời dặn. Vua Linh Công đến viếng thấy vậy, lấy làm ngạc nhiên. 

    Người con đem lời di chúc của cha tâu lại. Vua thất sắc nói rằng: "ấy là cái tội của quả nhân!"
    Rồi sai người đem xác ông Sử Ngư vào nhà, bắt khâm liệm và mai táng cho đủ lễ.

    Sau quả nhiên vua Linh Công dùng Cừ Bá Ngọc mà bãi Di Tử Hà.

    Đức Khổng Tử nghe truyện ấy, nói: "Đời cổ những gián quan đến lúc chết là hết cả mọi việc, chưa có ai được như Sử Ngư chết rồi mà còn dùng xác để can vua làm cho vua phải cảm động mà nghe mình. Thế chẳng là trung trực lắm ư!"


    (Gia ngữ)

    Giải Nghĩa:

    Tiến: Cử lên làm một chức gì.

    Thoái: Trừ bỏ đị

    Ngạc nhiên: Ngơ ngác kinh hãi không rõ đầu đuôi thế nào.

    Di chúc: Lời lúc chết dặn lại.

    Thất sắc: Mặt tự dưng tái đị

    Khâm liệm: Khâm: đồ bổ khuyết xếp trên, dưới bốn bên thây người trong áo quần cho chặt; liệm: vải hay lụa để bó thây người chết.

    Mai táng: Chôn, đắp thành mồ.

    Gián quan: Chức quan chủ việc cản ngăn vua mà đàn hặc các quan khi có lầm lỗi.

    Trung trực: Trung: hết lòng; trực: ngay thẳng.

    Lời Bàn:

    Đời quân chủ chuyên chế, phải có những chức gián quan thì mới có người chế hạn được quyền vua, can vua bỏ điều xằng, khuyên vua làm điều haỵ Nếu can khuyên vua không được thì chẳng là không làm hết cái chức trách rất trọng của gián quan ử Nhưng một đàng vua cứ nhất định không nghe, một đàng mình cố sức can mãi đến lúc chết chưa thôi, còn lấy xác can nữa, thì thực là đáng khen cái tâm chí sâu xa bền chặt ấy! Xem chuyện Sử Ngư lại nhớ đến chuyện bác sĩ Bergonie' suối đời hết lòng với khoa học, lúc chết, cũng hiến xác cho người ta mổ xẻ để nghiên cứu về y học. Như thế mới thực là những gương sáng tận tâm với chức vụ để cho thiên hạ soi chung.


    Yêu Nên Tốt , Ghét Nên Xấu 

    Trước, vua nước Vệ rất yêu Di Tử Hà. Cái phép nước Vệ, ai đi trộm xe của vua, thì phải tội chặt chân. Mẹ Di Tử Hà đau nặng. Đêm khuya có người đến gọi, Di Tử Hà vội vàng lấy xe vua ra đị Vua nghe thấy, khen rằng: "Có hiếu thật! Vì hết lòng với mẹ, mà quên cả tội chặt chân".

    Lại một hôm, Di Tử Hà, theo vua đi chơi ở ngoài vườn, đang ăn qủa đào thấy ngọt còn một nửa , đưa cho Vua ăn .Vua nói :" Yêu ta thật ! Của đang ngon miệng mà biết để nhường ta".

    Về sau, vua không có lòng yêu Di Tử Hà như trước nữa. Một hôm phạm lỗi, vua giận nói rằng: "Di Tử Hà trước dám thiện tiện lấy xe của ta đị Lại một bận dám cho ta ăn quả đào thừa. Thực mang tôi với ta đã lâu ngày, nói xong bắt đem trị tội. Ôi! Di Tử Hà ăn ở với vua trước sau cũng như vậy, thế mà trước vua khen, sau vua bắt tội, là chỗ tại khi yêu khi ghét khác nhau mà thôị Lúc được vua yêu, chính đáng tội thì lại hóa công thần; lúc phải vua ghét, chính không đáng tội thì lại hóa ra sơ cho nên người muốn can ngăn, đàm luận với vua điều gì, thì trước phải xem xét cái lòng vua yêu hay vua ghét tính thế nào rồi hãy nói.

    (Hàn Phi Tử)

    Giải Nghĩa:

    Di Tử Hà: Người thời Xuân Thu , làm quan đại phu nước Vệ .

    Chặt chân: Một thứ hình trong năm hạng trọng hình đời cổ.

    Thiện tiện: Chính mình không được làm như vậy mà cứ làm liều.

    Trị tội: Đem luật hình ra mà trừng trị kẻ phạm phép.

    Thân: Gần, đằm thắm, quý hóa.

    Sơ: Xa, hững hờ, ghét bỏ.

    Đàm luận : Nói năng ,bàn bạc 

    Lời Bàn:

    Sự yêu, ghét thường làm cho người ta mờ đi không rõ hẳn được cái giá trị của người được yêu hay bị ghét ra thế nào. Không nói gì yêu người này, ghét người nọ, cũng chỉ là một người ấy, lúc yêu cho ra thế này, lúc ghét cho ra thế kiạ Cái thói thường: yêu thì nên tốt, ghét thì nên xấu, khen chanh thì chanh ngọt, chê hồng thì hồng chuạ Trong bụng đã thế, thì cư xử chắc cũng theo như thế, lúc yêu hậu bao nhiêu, thì đến lúc ghét lại bạc bấy nhiêu, yêu nhau cau bảy bổ ba, ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười. Lại chẳng những yêu ghét riêng một người ấy, thường yêu ghét đến cả những sự hay những người có can thiệp đến người ấy, yêu nhau yêu cả tông chi, ghét nhau ghét cả đường đi lối về. Sự yêu, ghét làm cho ta thiên và nhẩm như thế, cho nên ta muốn cho công bình, khi yêu khi ghét phải nên rõ cái giá trị của người được yêu hay bị ghét, biết chỗ phải cũng phải biết chỗ trái, biết chỗ trái cũng phải biết chỗ phải cho người ta mới được.


    Hà Bá Lấy Vợ

    Dân đất Nghiệp có tục cứ mỗi năm góp tiền mua một người con gái ném xuống sông để làm vợ cho Hà Bá. Sự mê tín ấy có đã lâu ngày, không ai phá nổi.
    Lúc ông Tây Môn Báo, đến làm quan ở đấy, ông thân hành ra đứng làm chủ lễ cưới cho Hà Bá. Trước mặt đông đủ cả bô lão, hào trưởng, ông đồng bà cốt, ông cho gọi người con gái đến. Ông xem mặt xong, chê rằng: "Người con gái này không được đẹp! Ta nhờ bọn ông đồng xuống nói với Hà bá xin hoãn lại hôm khác, để tìm người đẹp hơn". Ông lập tức sai lính khiêng một ông đồng quăng xuống sông.
    Một lúc, ông nói: "Sao lâu thế này!" Rồi ông bảo đám bà cốt xuống nói hộ. Lập tức sai lính bắt một bà cốt ném xuống sông.
    Một lúc, ông nói: "Sao không thấy tin tức gì cả! Chừng lũ đồng cốt xuống nói không nên lời. Dám phiền các cụ bô lão đi giúp chọ Lại lập tức sai lính lôi một cụ vứt xuống sông.
    Một lúc, ông nói: "Sao mãi không thấy về thế này! Bọn đồng cốt, bô lão dễ đi cũng không được việc, phải nhờ đến bậc hào trưởng mới xong".
    Lúc bấy giờ bao nhiêu người đều xám xanh mặt lại van lạy xin thôị Tây Môn Báo nói: "Để thong thả ta xem đã..." Mọi người run như cầy sấy. Một chốc ông mới bảo: "Thôi tha chọ Thế là Hà bá không lấy vợ nữa rồi".
    Thành thử từ đây dân đất Nghiệp không ai dám nhắc đến truyện Hà bá lấy vợ nữa.

    (Sử Ký)

    GIảI NGHĩA:
    Nghiệp: Tên một huyện đời nhà Hán tức là huyện Lâm Chương tỉnh Hà Nam bây giờ.
    Tục: Thói quen lưu truyền lâu ngày đã thành nếp.
    Hà bá: Thần ở dưới nước.
    Mê tín: Tin một cách mê muội không biết lẽ phải là thế nào nữa.
    Tây Môn Báo: Người nước Ngụy thời Chiến Quốc làm quan rất giỏi, trừ được hại, hưng được lợi cho dân.
    Thân hành: Chính mình đi làm lấy một việc gì.
    Bô lão: Các cụ già.
    Hào trưởng: Kẻ có quyền thế, làm bực trên trong dân làng.

    Lời Bàn:

    Sự mê tín thường làm hư người, tốn của, nát nhà, có khi mất cả mạng, thật là tai hại. Khi mê tín đã thành tục, thì khó lòng mà phá nổi. Muốn phá, tất phải dụng tâm khéo làm sao mới được. Ông Tây Môn Báo sở dĩ mà phá nổi cái tục cưới vợ cho Hà bá là vì ông biết trừ tự cái gốc rễ; tức là đám đồng cốt quàng xiên, bọn cường ha`o ngoan cố, xưa nay quen thói cổ hoặc nhũng nhiễu người ta để kiếm ăn, để cầu lợi. Trừ hai hạng ấy để cứu vớt lương dân, chỉnh đốn phong tục thật là công minh và cương quyết vậy.


    Nhắn tin cho tác giả
    Đặng Đăng Phước @ 16:35 13/05/2011
    Số lượt xem: 1075
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Bản đồ